Tình huống mới nhất về thuế TNCN



Câu 1:
   Trường hợp tôi đã nghỉ hưu nhưng có ký hợp đồng làm thêm với 1 số nơi – các nơi có thu nhập đều khấu trừ thuế TNCN 10% trước khi trả thu nhập và đều đã đưa hóa đơn khấu trừ thuế cho tôi. Tôi không có nhu cầu hoàn thuế TNCN. Tôi ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm quá 10 triệu đồng  (đã được đơn vị trả thu nhập khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10%, đều đã đưa chứng từ khấu trừ thuế) và sau khi tự tính toán đã nhận thấy mình có số thuế phải nộp thêm.
   Vậy tôi có cần phải tự quyết toán thuế TNCN không? 
Trả lời :  
   Căn cứ khoản 1.1, Điều 1, mục II, CV 336/TCT- TNCN  ngày 24 tháng 01 năm 2014 về hướng dẫn quyết toán thuế TNCN năm 2013  thì:
- Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên tại một đơn vị, đồng thời có thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng đã được đơn vị trả thu nhập khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% hoặc 20% nếu cá nhân không có yêu cầu quyết toán thuế đối với thu nhập vãng lai thì được ủy quyền quyết toán tại tổ chức trả thu nhập ký hợp đồng lao động từ 03 tháng trở lên. Nếu cá nhân có yêu cầu quyết toán thuế đối với thu nhập vãng lai thì cá nhân trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế.
   Căn cứ tiết c, khoản 2, Điều 26. Khai thuế, quyết toán thuế, TT 111/2013/TT-BTC ngày 15 tháng 08 năm 2013 thì:
c) Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, từ kinh doanh có trách nhiệm khai quyết toán thuế nếu có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn thuế hoặc bù trừ thuế vào kỳ khai thuế tiếp theo, trừ các trường hợp sau:
c.1) Cá nhân có số thuế phải nộp nhỏ hơn số thuế đã tạm nộp mà không có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ thuế vào kỳ sau.
c.2) Cá nhân, hộ kinh doanh chỉ có một nguồn thu nhập từ kinh doanh đã thực hiện nộp thuế theo phương pháp khoán.
c.3) Cá nhân, hộ gia đình chỉ có thu nhập từ việc cho thuê nhà, cho thuê quyền sử dụng đất đã thực hiện nộp thuế theo kê khai tại nơi có nhà, quyền sử dụng đất cho thuê.
c.4) Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công ký hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lên tại một đơn vị mà có thêm thu nhập vãng lai ở các nơi khác bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng đã được đơn vị trả thu nhậpkhấu trừ thuế tại nguồn theo tỷ lệ 10% nếu không có yêu cầu thì không quyết toán thuế đối với phần thu nhập này.
Trường hợp bạn có thu nhập từ hai nơi trở lên, thì theo các quy định nêu trên, bạn phải tự làm quyết toán thuế trực tiếp với cơ quan Thuế địa phương.
Câu 2:
   Công ty tôi hiện đang ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn từ ngày 25/03/2013 với người lao động đã về hưu. Hiện tại, người lao động có khoản lương hưu được chi trả từ quỹ BHXH là 5 triệu đồng/tháng và Công ty thanh toán tiền lương hàng tháng cho người lao động này là 15 triệu đồng/tháng. Công ty tính thuế thu nhập cá nhân cho người lao động này theo biểu lũy tiến từng phần và giảm trừ bản thân người lao động là 9 triệu/tháng. Công ty tính như vậy đã đúng chưa và cuối năm người lao động có được ủy quyền cho Công ty quyết toán thay thuế TNCN không hay phải trực tiếp đi quyết toán tại cơ quan thuế?
Trả lời:
   Khi đã về hưu thì tiền của cá nhân nhận được từ Quỹ BHXH được miễn thuế theo quy định của điều 4 Luật thuế TNCN.
    Về hưu rồi vẫn đi làm được thì cá nhân này vẫn được tính GTGT cho bản thân anh ta và con nhỏ (nếu có, kể cả có thêm) dưới 18 tuổi, hoặc trên 18 tuổi vẫn còn đi học,… cha mẹ già anh ta phải nuôi dưỡng .
    Nếu anh ta chọn DN của Bạn là nơi làm việc chính và đăng ký nộp thuế TNCN tại đây, có MST cá nhân thì cũng được uỷ quyền quyết toán thuế trong 2 trường hợp sau :
+ Chỉ có thu nhập tại đây, hoặc/và có thêm thu nhập vãng lai về tiền công tại nơi khác và ước tính phần vãng lai đó không quá 10 triệu đồng/tháng (dưới 120 triệu/năm);
+ Chỉ có thu nhập tại, hoặc/và có thêm tiền cho thuê nhà mà tiền doanh thu cho thuê không vượt quá 20 triệu đồng/tháng đã khai nộp thuế tại nơi có nhà cho thuê.
Câu 3: 
   Công ty tôi thuê lao đồng thời vụ ký hợp đồng đưới 3 tháng. thu nhập mỗi tháng/lao động trên mức giảm trừ cho bản thân, nhưng cá nhân có MST và cam kết chỉ có thu nhập tại 1 nơi và tổng thu nhập cả năm chưa đến mức đóng thuế. Vậy xin hỏi tôi có tạm thời chưa khấu trừ 10% thuế của họ không?
Trả lời:
   Theo quy định tại Thông tư số 111/20013, Thông tư số 156/2013 của Bộ Tài chính thì những người ký Hợp đồng lao động với thời hạn từ 3 tháng trở lên sẽ thực hiện khấu trừ thuế theo Biểu thuế luỹ tiến từng phần (thuế luý tiến theo bậc, sau khi tạm tính giảm trừ gia cảnh).
   Đối với những người ký Hợp đồng dưới 3 tháng: Quy định tại điểm (i) thuộc khoản 1, điều 25 Thông tư số 113/2013 thì thực hiện khấu trừ 10% trên tổng mức chi trả 2 triệu đồng/lần. Trường hợp các nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc diện khấu trừ theo tỷ lệ này nhưng ước tính tổng thu nhập chịu thuế của cá nhân (cả năm) sau khi trừ gia cảnh mà chưa đến mức chịu thuế thì CÁ NHÂN CÓ THU NHẬP đó làm bản cam kết (Mẫu 23/BCK ban hành kèm TT số 156/2013), ghi đầy đủ thông tin cá nhân và mã số thuế cá nhân gửi tổ chức chi trả thu nhập để làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế. Với cá nhân này, DN của Bạn vẫn phải tổng hợp vào danh sách để nộp cho cơ quan thuế để theo dõi trên hệ thống quản lý.
Share on Google Plus